(tiếp theo)
Trích Ba Sinh Hương Lửa, tác giả Doãn Quốc Sĩ
II
Dân chúng Văn phú vẫn thường nhắc đến con hổ thọt đã tác họa cả vùng Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Báy khoảng bốn mươi năm nay . Khoảng mười năm đầu – hồi nó chưa bị thọt – riêng vùng này , có tới mươi người bị nó vồ, như vậy trung bình mỗi năm một người bị nạn cọp . Rồi đồn điền Văn Phú được mở mang giồng chè, sơn và trầu, chủ đồn điền là một người Pháp ưa săn bắn . Con hổ bị ông bắn trượt vào ngay năm đầu (khi ông vừa tới Văn Phú), nó thành hổ thọt từ đấy và xuất hiện luôn quanh vùng, có năm tổng số nạn nhân lên tới ba hoặc bốn người . Nó tăng cường hoạt động để trả thù ? Tới đâu nó để lại hình tích: ba vết chân lớn to bằng chiếc mũ và vết chân phải phía sau nhỏ như bông sen hàm tiếu.
Rồi những chuyện hoang đường được thêu dệt trong dân chúng . Người ta nói hổ thọt đã thành tinh, từng hiện hình người vẫy nạn nhân vào bụi rồi mới hiện thành hổ mà vồ . Có lần – vẫn theo truyền thuyết hoang đường của dân vùng này – nó bắt chước tiếng mẹ gọi con; người con “dạ” một tiếng, vội vã mở cửa ra, bị nó vồ liền và cấu ngay vào yết hầu (đã thành tinh nên vồ ai là nó biết cấu ngay vào yết hầu để hết kêu).
Bốn mươi năm qua... hổ thọt còn sống như thường . Hổ thành tinh hẳn không thể già yếu đi được, dân chúng nghĩ thế . Mà có già yếu thì nó đã biết lột để trở thành cường tráng như xưa.
Đồng, Uy đâu có ngờ những chuyện về con hổ thọt thành tinh đó lại có chút ít liên lạc đến cái đầu hói của ân nhân chúng là bủ Tôn . Ngày đó bủ Tôn mới khoảng ba mươi tuổi, anh em bà con còn gọi là Đoàn Tôn . “Đoàn” là một chức vị trong làng xã, ai cũng có thể bỏ tiền ra mua để được miễn tuần đinh, cũng như ở miền xuôi người ta mua “xã”, mua “nhiêu”. Một hôm Đoàn Tôn vào rừng hái củi được nửa chừng thì lên cơn sốt nhưng vẫn có tiếp tục chặt cho đủ gánh . Anh Đoàn lại không quên kiếm thêm ít măng tươi để lát nữa về nấu canh cho bầm (mẹ) sơi . Trời đổ cơn mưa lớn, sấm sét vang động cả cánh rừng; anh Đoàn thấy ù tai, không phải vì sấm sét mà vì cơn sốt đã lên tới cực độ . Đầu óc bỗng choáng váng, chân tay rời rã, Đoàn Tôn chỉ còn kịp nhận thấy chiếc miếu nhỏ thấp thoáng gần đấy trong màn mưa, bèn cố gắng rảo bước lại nằm vật dưới mái hành lang hẹp . Anh Đoàn ưỡn ngực oằn oại người và rên một cách sảng khoái . Anh Đoàn thấy mình hiện thành một con hổ trắng như chuyện Tiết Nhân Quý xưa ở nhà nàng Liễu Kim Huê . Anh đập đuôi gầm lên một tiếng vì trước mắt anh khi đó là con hổ thọt thành tinh . Loài hổ quái ác ăn thịt người thành tinh thì cao quí sao bằng bạch hổ? Anh gầm lên một tiếng rền vang thành sấm sét khiến con hổ thọt hoảng sợ chạy mất . Mệt, anh gục xuống, đầu vẫn bừng bừng nóng . Bỗng thấy lạnh trên đỉnh đầu, anh ngửng lên, con hổ thọt đã trở lại lúc nào vừa thè lưỡi liếm . Anh đứng nhỏm lên hùng dũng và hiên ngang như một thiên tướng khoác bào trắng, anh quật đuôi gầm một tiếng còn uy nghi hơn tiếng sét và làm lóe lửa một góc trời . Lần này hổ thọt chạy miết vào rừng sâu không còn dám thò mặt ra nữa . Tiếng rên ngớt dần cùng với cơn sốt . Chiều! Cơn mưa đã tạnh, chỉ còn tiếng con suối lên cao đương xoáy cuộn lao mình ra sông Thao . Anh Đoàn Tôn đứng dậy, tầm thần bàng hoàng, chân tay bải hoải . Quần áo anh ướt đẫm không phải vì nước mưa mà vì mồ hôi đổ ra trong cơn sốt như nung như nấu vừa qua . Anh đứng dậy, lảo đảo tới chỗ kiếm củi khi nẫy . Chiếc rìu của anh bị bao phủ bởi một đống bọt trắng . “Hừm, nước dãi con hổ thọt chứ gì”! – Anh nghĩ .
Anh chỉ sách có cái rìu về . Bầm chờ anh ở cửa . Anh về nhà thay quần áo khô rồi nằm vật lên giường . Bầm nấu cháo hành cho anh ăn . Mồ côi cha từ nhỏ và là con một, anh vẫn được bầm thương chiều .
Ăn xong bát cháo, anh cúi đầu trầm ngâm một phút rồi mới nói:
- Bầm ạ, lúc nãy con gặp hổ thọt .
Bà cụ giật nẩy mình:
- Mày gặp hổ thọt ? Mày không bị nó ăn thịt ?
Nụ cười anh Đoàn tuy mệt nhọc nhưng bao hàm biết bao là kiêu:
- Lúc đó con đương lên cơn sốt, tướng tinh con xuát hiện thành Bạch Hổ . Hai lần hổ thọt đến gần, hai lần con gầm lên, lần thứ hai con hổ thọt chạy mất hút vào rừng . Nó liếm lên đầu con một cái .
Bà cụ chắp tay trước ngực:
- A di đà phật, thì trước sa tao vẫn bảo là tao cầu tự được mày ở miễu Đức Bà . Mày là con Đức Bà, A di đà phật, con Đức Bà tướng tinh Bạch Hổ thì hổ thọt làm gì được?
(Miền này, ngay ven rừng cách bờ sông chừng một trăm thước, có chiếc miếu cổ thờ bà Âu Cơ, tương truyền dựng lên tự thời Lý cùng với một chiếu miếu nữa ở Yên Báy).
Tin anh Đoàn Tôn tướng tinh Bạch Hổ đánh bạt hổ thọt lan đi rất chóng khắp vùng, ai cũng lắc đầu le lưỡi . Anh lại bắt đầu rụng tóc . Một năm sau anh hói từ trán tới đỉnh đầu . Trước các anh em trong họ ngoài làng, anh thường đưa tay lên xoa khoảng hói đó và nói bằng giọng bình thản:
- Nó chỉ liếm có một cái mà tóc đã rụng hết, độc thế!
Anh vâng theo lời bầm lấy vợ nhưng được một năm thì vợ chết, chưa kịp có con . Bầm cũng quy tiên . Anh cho rằng mình tướng tinh Bạch Hổ nên hiếm con là phải và chẳng nghĩ đến tục huyền nữa . Vả lại bầm mất rồi còn có ai đủ quyền giục anh việc đó?
Tính anh thẳng thắn, hay giúp đỡ nên được nhiều người vị nể nhưng đôi khi cũng xảy ra sự xô xát có thể đưa đến ẩu đả . Những lúc đó anh đứng rạng chân, khoanh tay lại, uy nghi như Bạch Hổ và anh nói với địch thủ:
- Mày cứ giỏi vào đây, đến hổ thọt ông còn không coi vào đâu nữa là mày .
Sự thực, nguyên sức vóc của anh Đoàn Tôn đã vào hạng lực lưỡng vạm vỡ đáng kể, huống chi thành tích tướng tinh Bạch Hổ của anh với hổ thọt, bởi vậy khi nghe anh nói vậy, địch thủ thường tìm cách rút lui có ...trật tự .
Anh Đoàn Tôn xưa, nay đã thành bủ Tôn rồi. Thấm thoát chóng thế! bủ Tôn vẫn ở căn nhà cũ ở chân đồi, ven sông, lại còn dư dật tiền hùn vốn với mấy người cùng xã dựng lò kéo mật. Cuộc đời cô độc nhiều khi cũng làm bủ Tôn thấy buồn. Bủ yêu trẻ lắm, song nhà cửa vùng trung du này cách nhau xa quá, lũ trẻ ít chịu đến chơi với bủ . Hàng ngày chúng chỉ đến tụ tập ở lò mật . Bủ thường mùa nào thức nấy mang hoa quả ở vườn nhà đến cho chúng: chuối, quít, cam, nhãn... Đôi khi gặp ngày phiên chợ bủ mua một ít bánh rán . Lũ trẻ đến bủ cho thêm bát mật lò nhà để chúng chấm thêm vào ăn cho thực ngọt đậm. Trẻ con thích ngọt mà!
Buổi chiều hôm đó nấu xong mẻ mật cuối cùng, bủ ra sông tắm thì thấy hai đứa trẻ đương chới với giữ dòng . May mà bủ đứng phía dưới dòng nên nhào ra đón kịp . Thoạt bủ tưởng chúng thuộc đoàn trẻ quen thuộc, hàng ngày gặp gỡ ở lò mật, ai ngờ đó là hai thiếu nhi “trại Bác Hồ” mới đến .
Đồng, Uy la những đứa trẻ biết nhớ ơn, nên kể từ đó hàng ngày cứ vào buổi chiều, khi chúng không phải làm gì nữa, chúng cố bớt chút thì giờ đến căn nhà ở chân đồi thăm bủ một lát . Từ trại thiếu nhi đi tắt qua bãi cát bờ sông đến nhà bủ chỉ chừng hai trăm thước là cùng . Hai “ông khách tý hon” đó quen sau mà lại thăm bủ trước, chứ chẳng lười như lũ trẻ chỉ biết chờ quà ở lò mật!
Bảo rằng Đồng, Uy là những đứa trẻ biết ơn cũng đúng, nhưng cũng đừng quên vì bủ Tôn yêu trẻ nên mới có sức “nam châm hút sắt” như vậy.
Ba mươi năm qua, bủ Tôn chưa hề quên chuyện tướng tinh Bạch Hổ của mình đã từng làm bạt vía hổ thọt . Ngày nay không còn những chuyện gây gổ như hồi còn trẻ, bủ không phải đứng khoanh tay hiên ngang như Bạch Hổ mà thách thức ai . Trước anh em bà con thân thuộc thỉnh thoảng bủ chỉ đưa tay lên xoa đầu hói nhắc lại câu bủ vẫn nhắc từ xưa:
- “Nó chỉ liếm có một cái mà tóc rụng hết, độc thế”!
(còn tiếp)
Monday, July 13, 2009
Chỉnh Huấn, Phong Trào Tam Phản (3)
Trích Ba Sinh Hương Lửa, tác giả Doãn Quốc Sĩ
(tiếp theo)
Chương Bốn
Đôi Bạn Nhỏ
Câu chuyện thương tâm là câu chuyện giữa hai cậu nhỏ Uy và Đồng thân nhau hơn ruột thịt mà rồi một bên lỡ lầm ...
Trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc – 19-12-46 cha Uy đã bị công an Việt Minh bắt, người ta tình nghi ông dính líu với Quốc Dân Đảng . Gia đình còn lại hai mẹ con, tản cư lên Phú Thọ . Ở đây mẹ Uy lúng túng vì sinh kế đành gửi Uy vào “trại thiếu nhi bác Hồ”. Nhưng bà đã gởi nhầm Uy vào đoàn trẻ thuộc Cô Nhi Viện phố Hàng Bột Hà Nội nay tản cư lên đây . Khi Pháp nhảy dù Phú Thọ, mẹ Uy chạy xuống xuôi – Việt Trì – còn Uy theo đoàn ngược Thanh Ba, ngược Vũ Yển, ngược Phê Đình, ngược Ấm Thượng tới Văn Phú, dừng lại ở đây . Uy hoàn toàn mất liên lạc với mẹ từ đấy .
Trên con đường di chuyển từ Phú Thọ ngược đến Văn Phú, Uy làm quen với Đồng rồi tình thân nẩy nở rất chóng giữa đôi trẻ nhỏ .
Đồng thực sự là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, được nuôi trong cô nhi viện từ thủa còn phải ẵm ngửa.
Tới Văn Phú đoàn thiếu nhi tự sửa soạn lấy nơi ăn chốn ở . Tại Văn Phú cũng như tại Phê Đình, Ấm Thượng, hai bên bờ sông chỉ thấy ngút ngàn ruộng mía, đây đó là mái tranh xám của những nhà quay mật . Quanh nhà quay mật, bã mía phơi khô chất thành những đống lớn như đống rơm ở vùng xuôi, ruồi nhặng bao phủ trên đó như cả một sư đoàn chiếm trọn khu đồi trọc dưới một mô hình nhỏ; thỉnh thoảng thấy động chúng bay vù lên tiếng ve ve dào dạt rộng lớn, qua đi một vài giây chúng lại đậu xuống tựa như con nào về chỗ con nấy, chỉ còn lại tiếng bước chân trâu theo vòng tròn kéo mật và tiếng máy nghiến mía kin kít tự bên trong vọng ra đều đều . Buổi trưa mùi bã mía khái khái bốc hơi dưới nắng tỏa ra ôm lấy khu nhà, trong khi mùi mật nồng nàn bốc lên từ lò lửa bên trong.
Buổi chiều Uy và Đồng ra sông tắm . Đồng mới võ vẽ biết bơi, Uy dắt tay Đồng lội xuống nước lần theo bãi cát thoai thoải . Chợt bàn chân Đồng gặp phải khoảng bùn trơn nhày nhụa rồi sa vào một khoảng hoẵm sâu như giếng . Vì mất đà, Đồng ngã sấp xuống bị nước cuốn theo dòng, Uy nhào vội ra túm được một cánh tay bạn rồi Uy cố lựa theo dòng nước bơi vào phía trong, một chân tầm phòng trên mặt nước, một chân quờ quạng bên dưới để xem đã đến quãng nông chưa .
Mấy lần chân Uy vừa chạm vào cát thì dòng nước như một cánh tay lực lưỡng và quái ác lại du Uy ra xa để gặp khối nước sâu lạnh như băng bên dưới . Chắc là Đồng đã uống nhiều nước mà Uy thì cương quyết giữ chặt lấy tay bạn hy vọng rạt vào một quãng nông nào rộng hơn . Chợt có một cánh tay khác lực lưỡng hơn cánh tay của dòng sông, cánh tay đó phải dài lắm vì quàng được cả hai đứa . Đồng, Uy cùng ngửa mặt thở không khí vì cả hai cùng được lật ngửa kẹp vào giữa cánh tay và khoảng xương háng của người cứu .
Thoáng một phút sau, thân hình lực lưỡng đó đã nhoai tớ khoảng nông, nước chỉ vừa ngập đầu gối, cánh tay lực lưỡng dựng Đồng, Uy đứng thẳng lên, rồi theo sau một tiếng thở phào là giọng nói khàn và ấm của một ông già:
- Tí nữa các cháu chết nhé!
Còn run cầm cập Đồng, Uy ngẩng lên nhìn ân nhận . Đó là một cụ già trạc trên sáu mươi tuổi nhưng còn vạm vỡ lắm, khuôn mặt cụ nếu đều đặn ra thì hình trái soan nhưng vì má hóp xuống (chắc vị mấy chiếc răng hàm rụng) lưỡng quyền nhô lên, chiếc cầm càng nhọn với mấy sợi râu mầu muối tiêu khiến bộ mặt cụ phảng phất giống một trái vả chín mõm . Đặc biệt cụ bị hói cả một khoảng từ trán đến gần đỉnh đầu, da khoảng đó nhẵn bóng như sẹo . Khoảng tóc còn lại hai bên và phía sau cũng đã hoa râm và không được nhiều nhặn gì cho lắm .
Cụ nhìn hai đứa trẻ lúc đó đã cùng cụ lên tới bãi cát . Đôi mắt sáng cương quyết một cách thuần hậu, nụ cười còn thuần hậu hơn, cụ hỏi:
- Quần áo của các cháu trên bãi cát đằng kia phải không?
Đồng, Uy gật đầu .
Cụ nói:
- Đứng đây chờ bủ lại lấy cho nghe!
Lát sau Đồng, Uy đã ngồi sưởi bên lò mật của bủ Tôn, tên cụ già (miền này chữ “bủ” có nghĩa như ông hay cụ miền xuôi).
Lò mật của bủ Tôn ở ngay bên bờ sông, còn nhà thì ở chân đồi cách đấy chừng ba trăm thước . Về trại, tối hôm đó trước khi đi ngủ, Đồng nắm lấy tay Uy nói:
- Anh em mình khi vui khi buồn có nhau nhỉ .
“Khi buồn” đây Đồng muốn ám chỉ tai nạn suýt chết đuối ban chiều .
(còn tiếp)
(tiếp theo)
Chương Bốn
Đôi Bạn Nhỏ
Câu chuyện thương tâm là câu chuyện giữa hai cậu nhỏ Uy và Đồng thân nhau hơn ruột thịt mà rồi một bên lỡ lầm ...
Trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc – 19-12-46 cha Uy đã bị công an Việt Minh bắt, người ta tình nghi ông dính líu với Quốc Dân Đảng . Gia đình còn lại hai mẹ con, tản cư lên Phú Thọ . Ở đây mẹ Uy lúng túng vì sinh kế đành gửi Uy vào “trại thiếu nhi bác Hồ”. Nhưng bà đã gởi nhầm Uy vào đoàn trẻ thuộc Cô Nhi Viện phố Hàng Bột Hà Nội nay tản cư lên đây . Khi Pháp nhảy dù Phú Thọ, mẹ Uy chạy xuống xuôi – Việt Trì – còn Uy theo đoàn ngược Thanh Ba, ngược Vũ Yển, ngược Phê Đình, ngược Ấm Thượng tới Văn Phú, dừng lại ở đây . Uy hoàn toàn mất liên lạc với mẹ từ đấy .
Trên con đường di chuyển từ Phú Thọ ngược đến Văn Phú, Uy làm quen với Đồng rồi tình thân nẩy nở rất chóng giữa đôi trẻ nhỏ .
Đồng thực sự là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, được nuôi trong cô nhi viện từ thủa còn phải ẵm ngửa.
Tới Văn Phú đoàn thiếu nhi tự sửa soạn lấy nơi ăn chốn ở . Tại Văn Phú cũng như tại Phê Đình, Ấm Thượng, hai bên bờ sông chỉ thấy ngút ngàn ruộng mía, đây đó là mái tranh xám của những nhà quay mật . Quanh nhà quay mật, bã mía phơi khô chất thành những đống lớn như đống rơm ở vùng xuôi, ruồi nhặng bao phủ trên đó như cả một sư đoàn chiếm trọn khu đồi trọc dưới một mô hình nhỏ; thỉnh thoảng thấy động chúng bay vù lên tiếng ve ve dào dạt rộng lớn, qua đi một vài giây chúng lại đậu xuống tựa như con nào về chỗ con nấy, chỉ còn lại tiếng bước chân trâu theo vòng tròn kéo mật và tiếng máy nghiến mía kin kít tự bên trong vọng ra đều đều . Buổi trưa mùi bã mía khái khái bốc hơi dưới nắng tỏa ra ôm lấy khu nhà, trong khi mùi mật nồng nàn bốc lên từ lò lửa bên trong.
Buổi chiều Uy và Đồng ra sông tắm . Đồng mới võ vẽ biết bơi, Uy dắt tay Đồng lội xuống nước lần theo bãi cát thoai thoải . Chợt bàn chân Đồng gặp phải khoảng bùn trơn nhày nhụa rồi sa vào một khoảng hoẵm sâu như giếng . Vì mất đà, Đồng ngã sấp xuống bị nước cuốn theo dòng, Uy nhào vội ra túm được một cánh tay bạn rồi Uy cố lựa theo dòng nước bơi vào phía trong, một chân tầm phòng trên mặt nước, một chân quờ quạng bên dưới để xem đã đến quãng nông chưa .
Mấy lần chân Uy vừa chạm vào cát thì dòng nước như một cánh tay lực lưỡng và quái ác lại du Uy ra xa để gặp khối nước sâu lạnh như băng bên dưới . Chắc là Đồng đã uống nhiều nước mà Uy thì cương quyết giữ chặt lấy tay bạn hy vọng rạt vào một quãng nông nào rộng hơn . Chợt có một cánh tay khác lực lưỡng hơn cánh tay của dòng sông, cánh tay đó phải dài lắm vì quàng được cả hai đứa . Đồng, Uy cùng ngửa mặt thở không khí vì cả hai cùng được lật ngửa kẹp vào giữa cánh tay và khoảng xương háng của người cứu .
Thoáng một phút sau, thân hình lực lưỡng đó đã nhoai tớ khoảng nông, nước chỉ vừa ngập đầu gối, cánh tay lực lưỡng dựng Đồng, Uy đứng thẳng lên, rồi theo sau một tiếng thở phào là giọng nói khàn và ấm của một ông già:
- Tí nữa các cháu chết nhé!
Còn run cầm cập Đồng, Uy ngẩng lên nhìn ân nhận . Đó là một cụ già trạc trên sáu mươi tuổi nhưng còn vạm vỡ lắm, khuôn mặt cụ nếu đều đặn ra thì hình trái soan nhưng vì má hóp xuống (chắc vị mấy chiếc răng hàm rụng) lưỡng quyền nhô lên, chiếc cầm càng nhọn với mấy sợi râu mầu muối tiêu khiến bộ mặt cụ phảng phất giống một trái vả chín mõm . Đặc biệt cụ bị hói cả một khoảng từ trán đến gần đỉnh đầu, da khoảng đó nhẵn bóng như sẹo . Khoảng tóc còn lại hai bên và phía sau cũng đã hoa râm và không được nhiều nhặn gì cho lắm .
Cụ nhìn hai đứa trẻ lúc đó đã cùng cụ lên tới bãi cát . Đôi mắt sáng cương quyết một cách thuần hậu, nụ cười còn thuần hậu hơn, cụ hỏi:
- Quần áo của các cháu trên bãi cát đằng kia phải không?
Đồng, Uy gật đầu .
Cụ nói:
- Đứng đây chờ bủ lại lấy cho nghe!
Lát sau Đồng, Uy đã ngồi sưởi bên lò mật của bủ Tôn, tên cụ già (miền này chữ “bủ” có nghĩa như ông hay cụ miền xuôi).
Lò mật của bủ Tôn ở ngay bên bờ sông, còn nhà thì ở chân đồi cách đấy chừng ba trăm thước . Về trại, tối hôm đó trước khi đi ngủ, Đồng nắm lấy tay Uy nói:
- Anh em mình khi vui khi buồn có nhau nhỉ .
“Khi buồn” đây Đồng muốn ám chỉ tai nạn suýt chết đuối ban chiều .
(còn tiếp)
Labels:
Chỉnh Huấn,
Cộng Sản,
Lịch Sử,
Tam Phản,
Việt Nam
Subscribe to:
Posts (Atom)
