(tiếp theo)
Trích Ba Sinh Hương Lửa, tác giả Doãn Quốc Sĩ
II
Dân chúng Văn phú vẫn thường nhắc đến con hổ thọt đã tác họa cả vùng Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Báy khoảng bốn mươi năm nay . Khoảng mười năm đầu – hồi nó chưa bị thọt – riêng vùng này , có tới mươi người bị nó vồ, như vậy trung bình mỗi năm một người bị nạn cọp . Rồi đồn điền Văn Phú được mở mang giồng chè, sơn và trầu, chủ đồn điền là một người Pháp ưa săn bắn . Con hổ bị ông bắn trượt vào ngay năm đầu (khi ông vừa tới Văn Phú), nó thành hổ thọt từ đấy và xuất hiện luôn quanh vùng, có năm tổng số nạn nhân lên tới ba hoặc bốn người . Nó tăng cường hoạt động để trả thù ? Tới đâu nó để lại hình tích: ba vết chân lớn to bằng chiếc mũ và vết chân phải phía sau nhỏ như bông sen hàm tiếu.
Rồi những chuyện hoang đường được thêu dệt trong dân chúng . Người ta nói hổ thọt đã thành tinh, từng hiện hình người vẫy nạn nhân vào bụi rồi mới hiện thành hổ mà vồ . Có lần – vẫn theo truyền thuyết hoang đường của dân vùng này – nó bắt chước tiếng mẹ gọi con; người con “dạ” một tiếng, vội vã mở cửa ra, bị nó vồ liền và cấu ngay vào yết hầu (đã thành tinh nên vồ ai là nó biết cấu ngay vào yết hầu để hết kêu).
Bốn mươi năm qua... hổ thọt còn sống như thường . Hổ thành tinh hẳn không thể già yếu đi được, dân chúng nghĩ thế . Mà có già yếu thì nó đã biết lột để trở thành cường tráng như xưa.
Đồng, Uy đâu có ngờ những chuyện về con hổ thọt thành tinh đó lại có chút ít liên lạc đến cái đầu hói của ân nhân chúng là bủ Tôn . Ngày đó bủ Tôn mới khoảng ba mươi tuổi, anh em bà con còn gọi là Đoàn Tôn . “Đoàn” là một chức vị trong làng xã, ai cũng có thể bỏ tiền ra mua để được miễn tuần đinh, cũng như ở miền xuôi người ta mua “xã”, mua “nhiêu”. Một hôm Đoàn Tôn vào rừng hái củi được nửa chừng thì lên cơn sốt nhưng vẫn có tiếp tục chặt cho đủ gánh . Anh Đoàn lại không quên kiếm thêm ít măng tươi để lát nữa về nấu canh cho bầm (mẹ) sơi . Trời đổ cơn mưa lớn, sấm sét vang động cả cánh rừng; anh Đoàn thấy ù tai, không phải vì sấm sét mà vì cơn sốt đã lên tới cực độ . Đầu óc bỗng choáng váng, chân tay rời rã, Đoàn Tôn chỉ còn kịp nhận thấy chiếc miếu nhỏ thấp thoáng gần đấy trong màn mưa, bèn cố gắng rảo bước lại nằm vật dưới mái hành lang hẹp . Anh Đoàn ưỡn ngực oằn oại người và rên một cách sảng khoái . Anh Đoàn thấy mình hiện thành một con hổ trắng như chuyện Tiết Nhân Quý xưa ở nhà nàng Liễu Kim Huê . Anh đập đuôi gầm lên một tiếng vì trước mắt anh khi đó là con hổ thọt thành tinh . Loài hổ quái ác ăn thịt người thành tinh thì cao quí sao bằng bạch hổ? Anh gầm lên một tiếng rền vang thành sấm sét khiến con hổ thọt hoảng sợ chạy mất . Mệt, anh gục xuống, đầu vẫn bừng bừng nóng . Bỗng thấy lạnh trên đỉnh đầu, anh ngửng lên, con hổ thọt đã trở lại lúc nào vừa thè lưỡi liếm . Anh đứng nhỏm lên hùng dũng và hiên ngang như một thiên tướng khoác bào trắng, anh quật đuôi gầm một tiếng còn uy nghi hơn tiếng sét và làm lóe lửa một góc trời . Lần này hổ thọt chạy miết vào rừng sâu không còn dám thò mặt ra nữa . Tiếng rên ngớt dần cùng với cơn sốt . Chiều! Cơn mưa đã tạnh, chỉ còn tiếng con suối lên cao đương xoáy cuộn lao mình ra sông Thao . Anh Đoàn Tôn đứng dậy, tầm thần bàng hoàng, chân tay bải hoải . Quần áo anh ướt đẫm không phải vì nước mưa mà vì mồ hôi đổ ra trong cơn sốt như nung như nấu vừa qua . Anh đứng dậy, lảo đảo tới chỗ kiếm củi khi nẫy . Chiếc rìu của anh bị bao phủ bởi một đống bọt trắng . “Hừm, nước dãi con hổ thọt chứ gì”! – Anh nghĩ .
Anh chỉ sách có cái rìu về . Bầm chờ anh ở cửa . Anh về nhà thay quần áo khô rồi nằm vật lên giường . Bầm nấu cháo hành cho anh ăn . Mồ côi cha từ nhỏ và là con một, anh vẫn được bầm thương chiều .
Ăn xong bát cháo, anh cúi đầu trầm ngâm một phút rồi mới nói:
- Bầm ạ, lúc nãy con gặp hổ thọt .
Bà cụ giật nẩy mình:
- Mày gặp hổ thọt ? Mày không bị nó ăn thịt ?
Nụ cười anh Đoàn tuy mệt nhọc nhưng bao hàm biết bao là kiêu:
- Lúc đó con đương lên cơn sốt, tướng tinh con xuát hiện thành Bạch Hổ . Hai lần hổ thọt đến gần, hai lần con gầm lên, lần thứ hai con hổ thọt chạy mất hút vào rừng . Nó liếm lên đầu con một cái .
Bà cụ chắp tay trước ngực:
- A di đà phật, thì trước sa tao vẫn bảo là tao cầu tự được mày ở miễu Đức Bà . Mày là con Đức Bà, A di đà phật, con Đức Bà tướng tinh Bạch Hổ thì hổ thọt làm gì được?
(Miền này, ngay ven rừng cách bờ sông chừng một trăm thước, có chiếc miếu cổ thờ bà Âu Cơ, tương truyền dựng lên tự thời Lý cùng với một chiếu miếu nữa ở Yên Báy).
Tin anh Đoàn Tôn tướng tinh Bạch Hổ đánh bạt hổ thọt lan đi rất chóng khắp vùng, ai cũng lắc đầu le lưỡi . Anh lại bắt đầu rụng tóc . Một năm sau anh hói từ trán tới đỉnh đầu . Trước các anh em trong họ ngoài làng, anh thường đưa tay lên xoa khoảng hói đó và nói bằng giọng bình thản:
- Nó chỉ liếm có một cái mà tóc đã rụng hết, độc thế!
Anh vâng theo lời bầm lấy vợ nhưng được một năm thì vợ chết, chưa kịp có con . Bầm cũng quy tiên . Anh cho rằng mình tướng tinh Bạch Hổ nên hiếm con là phải và chẳng nghĩ đến tục huyền nữa . Vả lại bầm mất rồi còn có ai đủ quyền giục anh việc đó?
Tính anh thẳng thắn, hay giúp đỡ nên được nhiều người vị nể nhưng đôi khi cũng xảy ra sự xô xát có thể đưa đến ẩu đả . Những lúc đó anh đứng rạng chân, khoanh tay lại, uy nghi như Bạch Hổ và anh nói với địch thủ:
- Mày cứ giỏi vào đây, đến hổ thọt ông còn không coi vào đâu nữa là mày .
Sự thực, nguyên sức vóc của anh Đoàn Tôn đã vào hạng lực lưỡng vạm vỡ đáng kể, huống chi thành tích tướng tinh Bạch Hổ của anh với hổ thọt, bởi vậy khi nghe anh nói vậy, địch thủ thường tìm cách rút lui có ...trật tự .
Anh Đoàn Tôn xưa, nay đã thành bủ Tôn rồi. Thấm thoát chóng thế! bủ Tôn vẫn ở căn nhà cũ ở chân đồi, ven sông, lại còn dư dật tiền hùn vốn với mấy người cùng xã dựng lò kéo mật. Cuộc đời cô độc nhiều khi cũng làm bủ Tôn thấy buồn. Bủ yêu trẻ lắm, song nhà cửa vùng trung du này cách nhau xa quá, lũ trẻ ít chịu đến chơi với bủ . Hàng ngày chúng chỉ đến tụ tập ở lò mật . Bủ thường mùa nào thức nấy mang hoa quả ở vườn nhà đến cho chúng: chuối, quít, cam, nhãn... Đôi khi gặp ngày phiên chợ bủ mua một ít bánh rán . Lũ trẻ đến bủ cho thêm bát mật lò nhà để chúng chấm thêm vào ăn cho thực ngọt đậm. Trẻ con thích ngọt mà!
Buổi chiều hôm đó nấu xong mẻ mật cuối cùng, bủ ra sông tắm thì thấy hai đứa trẻ đương chới với giữ dòng . May mà bủ đứng phía dưới dòng nên nhào ra đón kịp . Thoạt bủ tưởng chúng thuộc đoàn trẻ quen thuộc, hàng ngày gặp gỡ ở lò mật, ai ngờ đó là hai thiếu nhi “trại Bác Hồ” mới đến .
Đồng, Uy la những đứa trẻ biết nhớ ơn, nên kể từ đó hàng ngày cứ vào buổi chiều, khi chúng không phải làm gì nữa, chúng cố bớt chút thì giờ đến căn nhà ở chân đồi thăm bủ một lát . Từ trại thiếu nhi đi tắt qua bãi cát bờ sông đến nhà bủ chỉ chừng hai trăm thước là cùng . Hai “ông khách tý hon” đó quen sau mà lại thăm bủ trước, chứ chẳng lười như lũ trẻ chỉ biết chờ quà ở lò mật!
Bảo rằng Đồng, Uy là những đứa trẻ biết ơn cũng đúng, nhưng cũng đừng quên vì bủ Tôn yêu trẻ nên mới có sức “nam châm hút sắt” như vậy.
Ba mươi năm qua, bủ Tôn chưa hề quên chuyện tướng tinh Bạch Hổ của mình đã từng làm bạt vía hổ thọt . Ngày nay không còn những chuyện gây gổ như hồi còn trẻ, bủ không phải đứng khoanh tay hiên ngang như Bạch Hổ mà thách thức ai . Trước anh em bà con thân thuộc thỉnh thoảng bủ chỉ đưa tay lên xoa đầu hói nhắc lại câu bủ vẫn nhắc từ xưa:
- “Nó chỉ liếm có một cái mà tóc rụng hết, độc thế”!
(còn tiếp)
Monday, July 13, 2009
Chỉnh Huấn, Phong Trào Tam Phản (3)
Trích Ba Sinh Hương Lửa, tác giả Doãn Quốc Sĩ
(tiếp theo)
Chương Bốn
Đôi Bạn Nhỏ
Câu chuyện thương tâm là câu chuyện giữa hai cậu nhỏ Uy và Đồng thân nhau hơn ruột thịt mà rồi một bên lỡ lầm ...
Trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc – 19-12-46 cha Uy đã bị công an Việt Minh bắt, người ta tình nghi ông dính líu với Quốc Dân Đảng . Gia đình còn lại hai mẹ con, tản cư lên Phú Thọ . Ở đây mẹ Uy lúng túng vì sinh kế đành gửi Uy vào “trại thiếu nhi bác Hồ”. Nhưng bà đã gởi nhầm Uy vào đoàn trẻ thuộc Cô Nhi Viện phố Hàng Bột Hà Nội nay tản cư lên đây . Khi Pháp nhảy dù Phú Thọ, mẹ Uy chạy xuống xuôi – Việt Trì – còn Uy theo đoàn ngược Thanh Ba, ngược Vũ Yển, ngược Phê Đình, ngược Ấm Thượng tới Văn Phú, dừng lại ở đây . Uy hoàn toàn mất liên lạc với mẹ từ đấy .
Trên con đường di chuyển từ Phú Thọ ngược đến Văn Phú, Uy làm quen với Đồng rồi tình thân nẩy nở rất chóng giữa đôi trẻ nhỏ .
Đồng thực sự là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, được nuôi trong cô nhi viện từ thủa còn phải ẵm ngửa.
Tới Văn Phú đoàn thiếu nhi tự sửa soạn lấy nơi ăn chốn ở . Tại Văn Phú cũng như tại Phê Đình, Ấm Thượng, hai bên bờ sông chỉ thấy ngút ngàn ruộng mía, đây đó là mái tranh xám của những nhà quay mật . Quanh nhà quay mật, bã mía phơi khô chất thành những đống lớn như đống rơm ở vùng xuôi, ruồi nhặng bao phủ trên đó như cả một sư đoàn chiếm trọn khu đồi trọc dưới một mô hình nhỏ; thỉnh thoảng thấy động chúng bay vù lên tiếng ve ve dào dạt rộng lớn, qua đi một vài giây chúng lại đậu xuống tựa như con nào về chỗ con nấy, chỉ còn lại tiếng bước chân trâu theo vòng tròn kéo mật và tiếng máy nghiến mía kin kít tự bên trong vọng ra đều đều . Buổi trưa mùi bã mía khái khái bốc hơi dưới nắng tỏa ra ôm lấy khu nhà, trong khi mùi mật nồng nàn bốc lên từ lò lửa bên trong.
Buổi chiều Uy và Đồng ra sông tắm . Đồng mới võ vẽ biết bơi, Uy dắt tay Đồng lội xuống nước lần theo bãi cát thoai thoải . Chợt bàn chân Đồng gặp phải khoảng bùn trơn nhày nhụa rồi sa vào một khoảng hoẵm sâu như giếng . Vì mất đà, Đồng ngã sấp xuống bị nước cuốn theo dòng, Uy nhào vội ra túm được một cánh tay bạn rồi Uy cố lựa theo dòng nước bơi vào phía trong, một chân tầm phòng trên mặt nước, một chân quờ quạng bên dưới để xem đã đến quãng nông chưa .
Mấy lần chân Uy vừa chạm vào cát thì dòng nước như một cánh tay lực lưỡng và quái ác lại du Uy ra xa để gặp khối nước sâu lạnh như băng bên dưới . Chắc là Đồng đã uống nhiều nước mà Uy thì cương quyết giữ chặt lấy tay bạn hy vọng rạt vào một quãng nông nào rộng hơn . Chợt có một cánh tay khác lực lưỡng hơn cánh tay của dòng sông, cánh tay đó phải dài lắm vì quàng được cả hai đứa . Đồng, Uy cùng ngửa mặt thở không khí vì cả hai cùng được lật ngửa kẹp vào giữa cánh tay và khoảng xương háng của người cứu .
Thoáng một phút sau, thân hình lực lưỡng đó đã nhoai tớ khoảng nông, nước chỉ vừa ngập đầu gối, cánh tay lực lưỡng dựng Đồng, Uy đứng thẳng lên, rồi theo sau một tiếng thở phào là giọng nói khàn và ấm của một ông già:
- Tí nữa các cháu chết nhé!
Còn run cầm cập Đồng, Uy ngẩng lên nhìn ân nhận . Đó là một cụ già trạc trên sáu mươi tuổi nhưng còn vạm vỡ lắm, khuôn mặt cụ nếu đều đặn ra thì hình trái soan nhưng vì má hóp xuống (chắc vị mấy chiếc răng hàm rụng) lưỡng quyền nhô lên, chiếc cầm càng nhọn với mấy sợi râu mầu muối tiêu khiến bộ mặt cụ phảng phất giống một trái vả chín mõm . Đặc biệt cụ bị hói cả một khoảng từ trán đến gần đỉnh đầu, da khoảng đó nhẵn bóng như sẹo . Khoảng tóc còn lại hai bên và phía sau cũng đã hoa râm và không được nhiều nhặn gì cho lắm .
Cụ nhìn hai đứa trẻ lúc đó đã cùng cụ lên tới bãi cát . Đôi mắt sáng cương quyết một cách thuần hậu, nụ cười còn thuần hậu hơn, cụ hỏi:
- Quần áo của các cháu trên bãi cát đằng kia phải không?
Đồng, Uy gật đầu .
Cụ nói:
- Đứng đây chờ bủ lại lấy cho nghe!
Lát sau Đồng, Uy đã ngồi sưởi bên lò mật của bủ Tôn, tên cụ già (miền này chữ “bủ” có nghĩa như ông hay cụ miền xuôi).
Lò mật của bủ Tôn ở ngay bên bờ sông, còn nhà thì ở chân đồi cách đấy chừng ba trăm thước . Về trại, tối hôm đó trước khi đi ngủ, Đồng nắm lấy tay Uy nói:
- Anh em mình khi vui khi buồn có nhau nhỉ .
“Khi buồn” đây Đồng muốn ám chỉ tai nạn suýt chết đuối ban chiều .
(còn tiếp)
(tiếp theo)
Chương Bốn
Đôi Bạn Nhỏ
Câu chuyện thương tâm là câu chuyện giữa hai cậu nhỏ Uy và Đồng thân nhau hơn ruột thịt mà rồi một bên lỡ lầm ...
Trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc – 19-12-46 cha Uy đã bị công an Việt Minh bắt, người ta tình nghi ông dính líu với Quốc Dân Đảng . Gia đình còn lại hai mẹ con, tản cư lên Phú Thọ . Ở đây mẹ Uy lúng túng vì sinh kế đành gửi Uy vào “trại thiếu nhi bác Hồ”. Nhưng bà đã gởi nhầm Uy vào đoàn trẻ thuộc Cô Nhi Viện phố Hàng Bột Hà Nội nay tản cư lên đây . Khi Pháp nhảy dù Phú Thọ, mẹ Uy chạy xuống xuôi – Việt Trì – còn Uy theo đoàn ngược Thanh Ba, ngược Vũ Yển, ngược Phê Đình, ngược Ấm Thượng tới Văn Phú, dừng lại ở đây . Uy hoàn toàn mất liên lạc với mẹ từ đấy .
Trên con đường di chuyển từ Phú Thọ ngược đến Văn Phú, Uy làm quen với Đồng rồi tình thân nẩy nở rất chóng giữa đôi trẻ nhỏ .
Đồng thực sự là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, được nuôi trong cô nhi viện từ thủa còn phải ẵm ngửa.
Tới Văn Phú đoàn thiếu nhi tự sửa soạn lấy nơi ăn chốn ở . Tại Văn Phú cũng như tại Phê Đình, Ấm Thượng, hai bên bờ sông chỉ thấy ngút ngàn ruộng mía, đây đó là mái tranh xám của những nhà quay mật . Quanh nhà quay mật, bã mía phơi khô chất thành những đống lớn như đống rơm ở vùng xuôi, ruồi nhặng bao phủ trên đó như cả một sư đoàn chiếm trọn khu đồi trọc dưới một mô hình nhỏ; thỉnh thoảng thấy động chúng bay vù lên tiếng ve ve dào dạt rộng lớn, qua đi một vài giây chúng lại đậu xuống tựa như con nào về chỗ con nấy, chỉ còn lại tiếng bước chân trâu theo vòng tròn kéo mật và tiếng máy nghiến mía kin kít tự bên trong vọng ra đều đều . Buổi trưa mùi bã mía khái khái bốc hơi dưới nắng tỏa ra ôm lấy khu nhà, trong khi mùi mật nồng nàn bốc lên từ lò lửa bên trong.
Buổi chiều Uy và Đồng ra sông tắm . Đồng mới võ vẽ biết bơi, Uy dắt tay Đồng lội xuống nước lần theo bãi cát thoai thoải . Chợt bàn chân Đồng gặp phải khoảng bùn trơn nhày nhụa rồi sa vào một khoảng hoẵm sâu như giếng . Vì mất đà, Đồng ngã sấp xuống bị nước cuốn theo dòng, Uy nhào vội ra túm được một cánh tay bạn rồi Uy cố lựa theo dòng nước bơi vào phía trong, một chân tầm phòng trên mặt nước, một chân quờ quạng bên dưới để xem đã đến quãng nông chưa .
Mấy lần chân Uy vừa chạm vào cát thì dòng nước như một cánh tay lực lưỡng và quái ác lại du Uy ra xa để gặp khối nước sâu lạnh như băng bên dưới . Chắc là Đồng đã uống nhiều nước mà Uy thì cương quyết giữ chặt lấy tay bạn hy vọng rạt vào một quãng nông nào rộng hơn . Chợt có một cánh tay khác lực lưỡng hơn cánh tay của dòng sông, cánh tay đó phải dài lắm vì quàng được cả hai đứa . Đồng, Uy cùng ngửa mặt thở không khí vì cả hai cùng được lật ngửa kẹp vào giữa cánh tay và khoảng xương háng của người cứu .
Thoáng một phút sau, thân hình lực lưỡng đó đã nhoai tớ khoảng nông, nước chỉ vừa ngập đầu gối, cánh tay lực lưỡng dựng Đồng, Uy đứng thẳng lên, rồi theo sau một tiếng thở phào là giọng nói khàn và ấm của một ông già:
- Tí nữa các cháu chết nhé!
Còn run cầm cập Đồng, Uy ngẩng lên nhìn ân nhận . Đó là một cụ già trạc trên sáu mươi tuổi nhưng còn vạm vỡ lắm, khuôn mặt cụ nếu đều đặn ra thì hình trái soan nhưng vì má hóp xuống (chắc vị mấy chiếc răng hàm rụng) lưỡng quyền nhô lên, chiếc cầm càng nhọn với mấy sợi râu mầu muối tiêu khiến bộ mặt cụ phảng phất giống một trái vả chín mõm . Đặc biệt cụ bị hói cả một khoảng từ trán đến gần đỉnh đầu, da khoảng đó nhẵn bóng như sẹo . Khoảng tóc còn lại hai bên và phía sau cũng đã hoa râm và không được nhiều nhặn gì cho lắm .
Cụ nhìn hai đứa trẻ lúc đó đã cùng cụ lên tới bãi cát . Đôi mắt sáng cương quyết một cách thuần hậu, nụ cười còn thuần hậu hơn, cụ hỏi:
- Quần áo của các cháu trên bãi cát đằng kia phải không?
Đồng, Uy gật đầu .
Cụ nói:
- Đứng đây chờ bủ lại lấy cho nghe!
Lát sau Đồng, Uy đã ngồi sưởi bên lò mật của bủ Tôn, tên cụ già (miền này chữ “bủ” có nghĩa như ông hay cụ miền xuôi).
Lò mật của bủ Tôn ở ngay bên bờ sông, còn nhà thì ở chân đồi cách đấy chừng ba trăm thước . Về trại, tối hôm đó trước khi đi ngủ, Đồng nắm lấy tay Uy nói:
- Anh em mình khi vui khi buồn có nhau nhỉ .
“Khi buồn” đây Đồng muốn ám chỉ tai nạn suýt chết đuối ban chiều .
(còn tiếp)
Labels:
Chỉnh Huấn,
Cộng Sản,
Lịch Sử,
Tam Phản,
Việt Nam
Friday, June 5, 2009
Chỉnh Huấn, Phong Trào Tam Phản (2)
(tiếp theo)
Chương Ba
II
Câu chuyện còn dài, thôi ngủ đi!
Tưởng rằng hôm sau Hiển sẽ được Kha cho biết đầu đuôi “câu chuyện còn dài” đó . Nhưng không, lục quân khóa tám bắt đầu khai giảng . Kha và Hiển được biên chế vào cùng đại đội nhưng ở hai trung đội khác nhau . Vì là cựu học viên của khóa bảy nên Kha ở thế “dé chân chèo”, nửa là học viên khóa tám, nửa là cán bộ phụ trách ban văn nghệ của hiệu bộ (văn phòng của ban giám đốc trường). Những buổi đầu khai giảng, cả cán bộ lẫn học viên đều bận túi bụi, một tháng sau mới điều hòa xong mọi hoạt động trong trường . Và cũng cho tới lúc đó, Hiển mới bắt đầu được Kha kể cho nghe “câu chuyện còn dài” trên, kể làm nhiều lần vào những giờ đi tuần trong đêm khuya hoặc những giờ cùng nhau vào rừng kiếm củi .
Sau chiến thắng Cao Bắc Lạng, trường lục quân Trần Quốc Tuấn dời khỏi Thái Nguyên chuyển sang Côn Minh (Vân Nam) để tránh nạn phi cơ oanh tạc, địa điểm ở Phụng Minh Thôn . Hết khóa sáu, sang tới khóa bảy, thì cơ sở cho các ngành bộ binh, công binh, pháo binh đã được thiết lập qui củ đâu vào đấy .
Khóa bảy học yên lành được nửa chương trình thì viên sư đoàn trưởng cố vấn bèn khuyên thiếu tướng chính ủy Trần B. nên đem kinh nghiệm Trung Hoa áp dụng vào trường lục quân Việt Nam . Đó là kinh nghiệm phát động phong trào “tam phản”. Theo sư đoàn trưởng cố vấn thì trước đây nhờ có phương pháp tam phản mà đảng Cộng Sản Trung Hoa đã khám phá ra biết bao nhiêu thành phần phản động từng trực tiếp hoặc gián tiếp làm gián điệp để phá hoại Đảng . Lịch trình cuộc học tập đó như sau:
- Thoạt tiên đương sự tự bộc lộ mình đã nghĩ điều gì, làm điều gì qua từng biến cố .
- Các đồng chí trong tổ tam giao, trong tiểu đội, trong trung đội sẽ căn cứ vào những lời đương sự tự tố cáo đó mà nêu nghi vấn rồi chất vấn vấn đề soi tỏ đường đi mà tìm ra căn bệnh . Có mấy căn bệnh chính là: cầu an, hưởng lạc, giao động, hủ hóa ...
- Cấp lãnh đạo sẽ căn cứ vào kết quả trên, dùng “ánh sáng lý luận Mác Lê” mà quyết định thành phần đương sự .
Việc kiểm thảo nhân sinh quan theo ba đợt như trên áp dụng sang trường hợp Việt Nam sẽ lấy năm 1945 làm mốc phân chia hai giai đoạn: từ 1945 trở về trước là xã hội cũ, từ 1945 trở lại đây là xã hội mới . Các đảng viên cốt cán được chỉ định vào ban nghiên cứu học tập . Việc làm đầu tiên của ban này là lập một bản “danh sách đen” ghi sẵn những người thuộc thành phần năng tội lỗi nhất (là theo ý kiến của ban đó) để chuẩn bị đưa họ lên “bàn mổ” (nghĩa là đưa họ ra kiểm thảo). Ban nghiên cứu học tập còn bố trí sẵn những câu hỏi “phản phúc” (hỏi đi hỏi lại), học tập thái độ nên phản ứng ra sao để đối phó với tùy từng đương sự . Ban nghiên cứu học tập lại khôn ngoan chỉ định một số đảng viên xung phong lên “bàn mổ” trước làm “người điển hình”, có tác dụng chuẩn bị tinh thần học tập cho những người sau .
Phong trào tam phản bắt đầu!
Khẩu hiệu căng khắp nơi nhắc nhở sự quan trọng của phong trào tam phản . Tất cả mọi phương tiện đều phục vụ cho phong trào tam phản! Mỗi tiểu đội học tập ở một nhà riêng, tuyệt đối không ai được nói chuyện với người ngoài tiểu đội mình.
“Người điển hình” vào ngồi căn phòng nhỏ xung quanh quây vải đen, ôn lại quãng đời dĩ vãng hồi tiền cách mạng để bắt đầu viết bản phản tỉnh thư dưới ánh đèn dầu leo lét . “Người điển hình” đi chân không, mặc áo không cài khuy, mặc quần không giải rút, ăn cơm lạt, vẻ măt dáng người đau đớn, sầu khổ, thiểu não vì hối hận cho những tội lỗi xưa của mình .
Có người điển hình tự tố cáo đã ba lần rắp tâm đầu hàng địch; kháng chiến gian khổ quá, thà làm tù binh địch một thời gian, rồi được trở về quê quán ở vùng tề còn hơn .
Có người điển hình tự tố cáo đã từng làm chỉ điểm cho địch bằng cách treo ngửa gương trên ngọn cây để phi cơ địch biết mà oanh tạc .
Có người điển hình tự tố cáo, ôi ghê tởm, đã có ý tưởng ngủ với em gái . Trong buổi kiểm thảo này người đó nói một hồi lại ngất đi ... nói một hồi lại ngất đi ... ngất thật sự! Sau cùng đương sự đứng lên kết tội xã hội cũ đã làm con người sa đọa đến cùng cực, ca ngợi xã hội mới với “ánh sáng Mác Lê” đã dìu nhân loại từ vực thẳm tội lỗi lên đến đỉnh non cao của đạo đức .
Xin mở một ngoặc đơn để ghi chú ngay ở đây là chỉ sáu tháng sau, vào dịp học tập lại những sai lầm của phong trào tam phản, chính những người điển hình lại thú nhận những tội lỗi trên hoàn toàn chỉ có trong tưởng tượng; họ cho rằng càng tưởng tượng ra được những lỗi tày trời càng chứng thực được kỳ công khắc phục lòng tự ái, tự giải phóng khỏi cá nhân chủ nghĩa, chỉ còn biết trung kiên phục vụ Đảng . Có thể là lỗi tưởng tượng, nhưng họ đã hối hận thật, bởi họ tin tưởng rằng xã hội cũ đầy rẫy những tội lỗi như thế mới phải, mới đúng . Không nhìn thấy những tội lỗi do xã hội cũ gây nên ở chính bản thân là chưa giác ngộ, chưa thấm nhuần tư tưởng Đảng . Lẽ nào một cán bộ được Đảng tín nhiệm đến đề cử ra làm người điển hình, mở đầu phong trào tam phản mà lại chưa thấm nhuần tư tưởng Đảng ?
Các người điển hình đã thi đua tưởng tượng để tự tố cáo một cách hùng hồn những tội lỗi nặng nhất chính là vì thế .
Sau những người điển hình, đến những người có tên ghi trong sổ đen . Đây mới là nạn nhân chính, những đích chính của phong trào tam phản .
Có những cán bộ trước là du kích nằm trong vùng địch, có những cán bộ đã từng bị phòng nhì của địch bắt được và tra tấn đến chết đi sống lại, có những cán bộ từng vào sinh ra tử trong bao nhiêu chiến dịch đã được tặng huân chương chiến sĩ hạng nhất (trong số đó phần lớn đã là cán bộ chi ủy viên của Đảng) vậy mà trước những câu hỏi lục vấn lăng líu ngu xuẩn: “Tại sao thế này, vì sao thế nọ” họ cũng bị đưa dần đến thái độ lúng túng, thái độ của “kẻ phản cách mạng đã bị lột trần mưu mô . Mặc dầu đương mùa đông tuyết phủ, có những anh bị lột hết quần áo ngâm nửa giờ xuống nước lạnh rồi cứ trần truồng như vậy cổ đeo bảng “phản cách mạng” đi diễu trước đông đủ các học viên và nhân viên hiệu bộ, trai có, gái có (trong số những nhân viên hiệu bộ có một số phụ nữ Trung Hoa). Điểm kỳ dị nhất chính là ở chỗ ban lãnh đạo học tập đã khéo giữ được hai bề mặt hoàn toàn mâu thuẫn ở cùng một buổi học tập . Đương sự làm bản phản tỉnh thư rồi nêu nghi vấn, chất vấn, sỉ vả hành hạ cho điêu đứng ê chề ... Sau buổi kiểm thảo đương sự được vỗ về nhắc nhở cho biết là có tự bộc lộ như vậy, có bị anh em đồng đội hành hạ như vậy mới tẩy rửa được tàn tích nô lệ cũ mà phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân .
Đã được giải thích như vậy, nếu buổi kiểm thảo xong nạn nhân còn cười nhạt tức là trong lòng còn tàng trữ một tư tưởng phản động nào chưa bộc lộ . Tiếp tục tam phản tìm căn nguyên mới!
Nạn nhân mà tức uất đến phát khóc ấy là hèn hạ và còn tư tưởng oán Đảng để có thể phản Đảng sau này . Tiếp tục tam phản để tẩy não!
Nạn nhân mà im lặng là ngoan cố . Tiếp tục tam phản để khai thác thêm căn bệnh!
Thương khi buổi kiểm thảo dứt, nạn nhân muốn gục xuống tại chỗ vì cảm thấy cả thân thể lẫn tâm hồn bị nhão đừ, gương mặt chĩu nặng u sầu như người vừa hay tin cả nhà bị tử nạn .
Chưa thoát! Tinh thần sau buổi kiểm thảo chưa được phóng thích buông xuôi . Nếu sau buổi kiểm thảo mà ăn ngủ như thường ấy là có thái độ nhơn nhơn với tội lỗi, ăn ít hay bỏ ăn là kém thành thật, còn tiềm ẩn tư tưởng oán hận . Phải làm sao vẫn đau khổ thấm thía, đau khổ vì hối hận, vẫn niềm nở chào hỏi anh em, có thể xuống sân vui vẻ gia nhập một sét “vô lây”. Sau đó lại lập tức đi vào căn phòng căng vải đen, ngồi dưới ánh đèn dầu leo lét; tiếp tục ôm đầu suy nghĩ, tìm thêm hành động tội lỗi để chứng minh cho tư tưởng tội lỗi ngõ hầu giải đáp được một số nghi vấn chính đáng của anh em đồng đội đã giúp mình đối chiếu bệnh trạng trong những ngày qua; rồi thành khẩn hí hoáy viết thêm những trang mới để bổ khuyết cho bản phản tỉnh thư cũ .
Tất cả những công việc đó kể cả khi phải tạm ngừng để đi sau, đi tiểu đều đặt dưới sự canh chừng gắt gao của tổ tâm giao .
Tới một giai đoạn kia, nhiều người bị dồn vào thế cùng và nhân một lúc giây thần kinh bị căng thẳng đến cực độ bèn cho bùng nổ công phẫn, như quả mìn bùng nổ dưới sức nặng của chiến xa và thét lên:
- Ừ tao phản cách mạng!
- Ừ tao là bí thư của Vũ hông K.!
- Ừ tao chiến đấu vì cá nhân chủ nghĩa, vì anh hùng chủ nghĩa!
Lê K., con bà Cát Hanh Long, khi đó còn đương là phó chính ủy lãnh đạo học tập .
Sau cái chết thương tâm của Đồng (sẽ được thuật lại sau đây) phong trào tự sát bắt đầu và trung đoàn Lê K. nổi tiếng là trung đoàn có nhiều người tự sát nhất . Đã có kẻ dùng giây thừng tự tử; đã có kẻ bẻ vụn những lưỡi dao cạo râu mỏng hòa với nước uống, rồi ra sân chơi bóng rổ, được nửa cuộc thì gục xuống chết...
Để ngăn phong trào tự sát, chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Q.bèn chỉ vào xác một nạn nhân cuối cùng thét mắng:
- Quân phản bội! Quân trốn nợ nhân dân! Các đồng chí hãy quăng xác nó lên đồi!
Xác nạn nhân được quẳng lên đồi . Qua đi một đêm, sớm hôm sau, khi được phép chôn, anh em đồng đội lên tới nơi thì chỉ còn thấy những mảnh áo rách tơi tả kéo lê dưới mặt đất, vướng một ít vào bụi cây thấp ven thung lũng . Sài cứu – một giống chó rừng – đã tha xác chàng thanh niên Việt xấu số đó xuống tận đáy thung lũng sâu và xa dưới kia!
U uất, căm hờn chất thành núi thành non mà phải ngậm miệng! Kể cả giữa đôi bạn tâm tri nhất cũng không ai dám hé miệng thố lộ với ai nửa lời, bởi ai nấy sợ nhỡ xảy miệng đến tai Đảng . Đảng căn cứ vào đấy đặt lên bàn mổ tam phản thì thực là tàn cả một đời .
Trong cảnh “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” đó có hai chuyện đáng được thuật lại, một vào lúc mở màn cực kỳ thương tâm, một vào lúc gần hạ màn nhiễm tính chất bi hài .
(còn tiếp)
Chỉnh Huấn, Phong Trào Tam Phản (1)
Chỉnh Huấn
(Phong trào Tam Phản)
(Phong trào Tam Phản)
Giới thiệu:
Phong trào Chỉnh Huấn thỉnh thoảng được một số người nhắc đến, có lúc với ý như chê bai nhưng không hề thấy sách báo của chế độ cộng sản Việt Nam hay Trung
Quốc mô tả cặn kẽ. Ông Nguyễn Văn Trấn nhắc đến Chỉnh Huấn trong cuốn Viết Cho Mẹ và Quốc Hội rằng “thật ra chỉnh huấn làm cho người cộng sản ngây thơ ngày xưa học rồi thấy mình "chẳng ra con người" nữa” và “Họ nói khổ sở không phải là nói ra lỗi lầm, mà khổ sở là phải bịa ra lỗi lầm để bản kiểm thảo được coi là thành khẩn." Hay trong cuốn sách Những Điều Chưa Biết về Mao của Jung Chang (Trương Nhung) và Jon Halliday kể rằng Mao đề ra chính dịch Chỉnh Huấn khi ở Diên An.
Sau Chỉnh Huấn thì mọi người tại Diên An đều ăn nói giống hệt nhau. Đoạn văn sau đây trích trong cuốn truyện Ba Sinh Hương Lửa của Doãn Quốc Sĩ, xuất bản tại Sài
Gòn năm 1962, mô tả chi tiết về các quá trình của Chỉnh Huấn. Xin ghi lại để bạn đọc hiểu rõ hơn nội dung của Chỉnh Huấn có những gì.
Trích truyện Ba Sinh Hương Lửa trong bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau của Doãn Quốc Sĩ
Chương Ba
Phong trào Tam Phản khóa Bảy
Phong trào Tam Phản khóa Bảy
I
Hiển trở về Phụng Minh Thôn đúng hôm nơi này tràn ngập trong là gió nhẹ từ Đông Nam thổI tớI, làn gió như có mang lạI những hương thơm của đất nước . Trong khi chờ đợI quyết định của thiếu tướng chính ủy chỉ huy trường lục quân Hiển được mấy ngày rảnh để quan sát Phụng Minh Thôn . Chàng đã băng qua khu rừng thông phía
Tây, có những con sóc đuôi xòe như bông lau từ trên cao nhìn xuống vớI đôi mắt đen tò mò một cách ngộ nghĩnh . Hiển theo đường mòn dướI rặng thông đưa xuống một dòng suốI rộng, nước trong như pha lê và lạnh buốt . Hai bên bờ suốI là những bụI cây nhỏ hoa tím và những cây leo hoa vàng . Con suốI rộng này chảy theo hướng Đông Bắc tìm đường đổ ra Dương Tử Giang . Khu rừng núi phía Đông và phía Nam âm u hơn vớI những cây cổ thụ mọc san sát và cao ngất, vớI các giống khỉ, hươu nai, sài cứu (một giống chó rừng) … Phía Bắc là một cánh đồng lúa khá rộng trên đó tầm mắt được dịp phóng đi thoảI mái . Ven cánh đồng cỏ có con đường đất đỏ rộng, hai bên là cỏ xanh . Dọc theo con đường là nhà dân chúng; nơi đây dân chúng tuy đã chịu vài sự đổI mớI nhưng vẫn giữ được nếp sống thuần phác đặc biệt đáng mến .
Hiển trở về Phụng Minh Thôn được ba ngày thì tới ngày giỗ cha mẹ . Tại phòng Hiển, trên đầu giường nằm của mỗi người có một chiến kệ nhỏ bằng gỗ tạp làm nơi để các đồ dùng lặt vặt . Các đồ lặt vặt được bỏ xuống, đĩa hoa quả được đặt lên, Hiển thắp hương tưởng niệm . (Các thứ đó Hiển mua ở nhà dân chúng .) Lúc đó và giờ ăn chiều, trong phòng chỉ có mình Hiển . Chợt một số cán bộ trong ban Giám Đốc trường sịch vào, không hiểu do vô tình hay có người mật báo trước . Một cán bộ, thoáng trông cũng biết là thuộc thành phần tam đại bần cố nông, tiến đến nói bằng một giọng khá hách dịch:
- Đồng chí còn nặng tư tưởng phong kiến lạc hậu thế đấy!
Đôi mắt Hiển chợt ngầu đỏ . Tuy nhiên Hiển cũng sẵn sàng không chấp anh cán bộ bần cố nông đã bị Đảng mê muội hóa và cuồng tín hóa nếu anh ta không quá trớn hơn nữa . Số là thấy mắt Hiển đỏ ngầu, anh cán bộ cho ngay đó là triệu chứng của căn bệnh tự ái tiểu tư sản, anh bèn chỉ trích thêm giọng riễu cợt:
- Chúng tôi chẳng biết đồng chí cúng ai và tưởng niệm cái gì ở khoảng trống này.
Hiển nghiến răng trừng mắt:
- Anh câm mồm, bàn thờ cha mẹ, bàn thờ các liệt sĩ anh hùng chính là bàn thờ giá trị dân tộc, giá trị chính mình; chỉ có những kẻ vô giá trị mới nhìn lên bàn thờ mà thấy đó là khoảng không .
Sự thực Hiển cũng không có ý đặt vấn đề đến mức siêu hình như vậy, Hiển chỉ muốn gián tiếp trình bày với mấy cán bộ cao cấp đứng quanh đấy rằng chàng làm giỗ cha mẹ với một quan niệm vững chãi, không hề đi xa đường lối của Đảng . Nhưng sau khi sừng sộ nói một hồi như vậy Hiển thấy trừ một khuôn mặt nhìn chàng với cảm tình đặc biệt còn tất cả giữ vẻ lạnh lùng .
Anh cán bộ bần cố nông chỉ vào mặt Hiển nói giọng lên án cảnh cáo:
- Đồng chí còn nặng đầu óc cá nhân, tiểu tư sản thoái hóa, tối nay giờ sinh hoạt, đồng chí sẽ tự kiểm thảo trước toàn thể anh em .
Quả nhiên tối hôm đó thái độ cùng lời nói của Hiển được đem ra mổ sẻ vào giờ sinh hoạt . Hiển ngồi giữa, các lời phát biểu, phê bình, chất vấn, từ bốn phía thay phiên nhau đổ lại . Buổi họp kéo dài đến mười hai giờ khuya, Hiển mệt nhừ . Sau cùng Hiển đành thú nhận là còn nặng bệnh anh hùng cá nhân, còn quá nô lệ cho lòng tự ái, tự túc tự mãn .
Khi mọi người đã về giường ngủ, Hiển còn ra trước hiên làm mấy động tác hô hấp thật mạnh như muốn dùng hơi lạnh ban đêm thoa dịu những bực rọc trong lòng . Cảnh nghèo đói, cảnh cha mẹ chết trong cực nhọc, làm sao mà một tâm hồn cương trực và dễ xúc động như Hiển quên nổi? Hiển luôn luôn thương quí những người dân quê nghèo, đó là lẽ dĩ nhiên . Hiển vẫn thành kính nghĩ qua nỗi niềm chủ quan của chàng: Họ chính là viện bảo tàng sống vừa gìn giữ vừa thể hiện những năng lực bền bỉ cùng những đức tính tinh khiết nhất của dân tộc . Cách mạng là bồi bổ những năng lực đó, những đức tính đó . Người cán bộ nông dân kia đã để mất những thiên tính cao quí của người nông dân thuần hậu chất phác, hắn rơi vào cử chỉ kiêu hãnh tầm thường nhất, lầm lỗi nhất là lên mặt với một dúm trí thức hời hợt, hắn mới học mót được của người (ý nghĩ này của Hiển cũng gần giống như ý nghĩ của Tân về Mạnh, chủ tịch huyện Thanh Ba). Cách mạng hầu như khuyến khích sự kiện đó . Không được! Hiển nghĩ nếu cán bộ thuần một giống bò sát như thế thì muôn kiếp dân tộc nhà ở vị trí chầu rìa để làm cái công việc tung hô và ngưỡng mộ vô cùng đơn bạc hèn kém . (Như mấy anh hùng quân đội trong chuyến thăm Liên Sô với chàng). Hờn giận làm Hiển thấy nghẹn ngào nơi cổ .
Có bóng người tiến lại . Hiển nhận ra anh cán bộ ban chiều đã nhìn mình với cảm tình đặc biệt . Anh ta hỏi trước:
- Quê anh ở đâu ?
- Ở Vĩnh Yên – Hiển đáp .
- Anh có học ở Hà Nội ?
- Có .
- Hình như anh đỗ tú tài toán học ?
- Đỗ năm 1944.
- Tôi đỗ sau anh một năm, ban Triết Học Văn Chương .
Chợt anh ta hỏi thêm:
- Bực lắm hả ?
Biết thổ lộ với người này cũng không sao, HIển chặc lưỡi đáp:
- Kể cũng hơi bực . Ba bốn năm giời, đi dự các chiến dịch, không năm nào tôi quên ngày giỗ cha mẹ và không ở đâu anh em lại phản đối điều đó .
- Anh lầm, tình anh em đồng chí ngoài tiền tuyến lúc công đồn khác, ở đây khác . (Ngừng mấy giây) Thằng đó cùng học với tôi khóa bảy .
Hiển biết hai chữ “thằng đó” dùng để chỉ ai, bèn hỏi lại:
- Anh cùng làm việc ở hiệu bộ với hắn ?
- Không, tôi chỉ phụ trách tờ nội san ở hiệu bộ và tôi sẽ học lại cùng các anh ở khóa tám .
Hiển lặng lẽ quan sát kín đáo anh cán bộ môt lần nữa . Anh ta có khuôn mặt thật dễ thương, dáng người anh cao thẳng, đôi mắt nhìn thẳng, đôi môi mím nhưng hơi rung động . Ngừng một phút anh ta tiếp:
- Đã trải qua một bi hài kịch như vậy mà chúng vẫ không biết ngượng .
- Bi hài kịch nào ? – Hiển hỏi .
- Chuyện còn dài! – Anh cán bộ này đáp gọn, lời đáp như có ý nói: “Rồi tôi sẽ kể cho anh nghe!”
- Anh không buồn ngủ ? – Hiển hỏi .
- Giờ này là phiên tôi đi tuần – Anh cán bộ đáp .
Lại ngừng một phút . Anh cán bộ ngửng nhìn trời, mấy vì sao khuya lấp lánh hiu quạnh . Khoảng rừng núi phía Đông và phía Nam hiện thành một khối đen đặc nửa như bí hiểm nửa như ngu đần . Tiếng lá rung khe khẽ theo từng đợt gió đêm của những rặng cây gần đấy nghe buồn thật buồn, một nỗi buồn dằng dặc mà vô tư, tựa như một nỗi buồn đã dì nhiên có tự thời nào và sẽ còn có mãi như bóng theo hình người . Một nỗi buồn vô tư! – Hiển tự nhủ - có thể như thế được lắm!
Tiếng anh cán bộ hỏi:
- Anh có biết trung đoàn pháo binh Lê K.?
- Trung đoàn của con bà Cát Hanh Long chứ gì ?
- Chính hắn ở trung đoàn đó, trung đoàn có nhiều người tự tử nhất trong khóa bảy .
- Sao lại tự tử ?
- Chuyện còn dài; thôi anh đi ngủ đi .
Hôm sau Hiển được biết tên anh đã học khóa bảy đó là Kha .
Buổi chiều Hiển thấy Kha chợt reo mừng chạy ra cổng trại đón một tốp mới chín người . Đôi bên nói nói cười cười ra vẻ quen thuộc nhau lắm .
Sau buổi sinh hoạt tối, Hiển lại gặp Kha ngoài hiên .
Kha nói:
- Có thêm chín anh học khóa bảy đã về tới biên giới, phải quay lại đây để theo lớp chỉnh huấn mới .
- Sao vậy ? – Hiển hỏi .
Kha hỏi lại Hiển:
- Khi anh đến đây có qua cầu Thanh Thủy không ?
- Có cầu Thanh Thủy cách chừng mười lăm cây số về phía Bắc Hà Giang .
Kha gật đầu:
Vì các “tướng” này về đến cầu biên giới đó, ném cả tài liệu hồ sơ sổ sách xuống cầu nên phải quay lại đây học thêm ba tháng để đả thông tư tưởng .
- Sao vậy ?
- Câu chuyện còn dài, thôi đi ngủ đi!
(còn tiếp)
Subscribe to:
Posts (Atom)
